Con cái có được làm chứng trong di chúc của bố mẹ không?

Tầng 3, 70 Hoàng Diệu, Phường Xóm Chiếu, Tp. Hồ Chí Minh

infotruongminhngoc@gmail.com

logo

Hotline 24/7 093 694 1658 0939 593 486

Con cái có được làm chứng trong di chúc của bố mẹ không?
10/03/2026 03:58 PM 140 Lượt xem

    Di chúc là một hình thức thể hiện ý chí cá nhân nhằm định đoạt di sản thừa kế sau khi chết, được quy định chi tiết tại Bộ luật Dân sự năm 2015. Một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu lực pháp lý của di chúc là vai trò của người làm chứng, nhằm đảm bảo tính khách quan, minh bạch và tuân thủ hình thức lập di chúc. Người làm chứng đóng vai trò quan trọng để xác nhận chữ ký, điểm chỉ và trạng thái tinh thần của người để lại di sản . Tuy nhiên, để tránh xung đột lợi ích và đảm bảo tính trung thực, không phải ai cũng có tư cách làm chứng. Một trong những thắc mắc phổ biến nhất là liệu con cái, những người thân cận nhất có được phép làm chứng cho di chúc của cha mẹ hay không?

    Pháp luật quy định thế nào về người làm chứng cho di chúc? (Ảnh minh họa)

    Hãy cùng Luật Trường Minh Ngọc tìm hiểu về vấn đề này như sau:

    Pháp luật quy định thế nào về người làm chứng cho di chúc?

    Theo quy định tại Điều 632 Bộ luật dân sự năm 2015 thì mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

    - Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

    - Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

    - Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

    Như vậy, căn cứ theo Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Do đó, con cái (bao gồm con đẻ và con nuôi) là người thừa kế theo pháp luật của cha mẹ sẽ không được làm chứng cho di chúc của cha mẹ, dù di chúc đó là dạng văn bản có người làm chứng hay di chúc miệng.

    Nếu con cái vẫn ký tên làm chứng thì bản di chúc đó có giá trị pháp lý không?

    Khi di chúc vi phạm các điều kiện về chủ thể, nội dung hoặc hình thức theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong trường hợp con cái ký tên với tư cách là người làm chứng cho việc lập di chúc của cha mẹ, hành vi này vi phạm quy định tại Điều 632 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về những người không được làm chứng cho việc lập di chúc. Nếu di chúc bị tuyên vô hiệu toàn bộ, thì di sản của người chết sẽ được chia theo quy định về thừa kế theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế của người để lại di sản.

    Có ngoại lệ nào cho phép con cái làm chứng trong trường hợp khẩn cấp hoặc di chúc miệng không? (Ảnh minh họa)

    Có ngoại lệ nào cho phép con cái làm chứng trong trường hợp khẩn cấp hoặc di chúc miệng không?

    Theo khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp nếu người làm chứng ghi chép lại, ký tên và công chứng trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày người lập di chúc miệng bày tỏ ý chí cuối cùng như sau:

    Điều 630. Di chúc hợp pháp

    5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

    Tuy nhiên, người làm chứng vẫn phải tuân thủ Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015, nghĩa là con cái không được làm chứng ngay cả trong trường hợp khẩn cấp, vì họ là người thừa kế theo pháp luật. 

    Trước đây, theo Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 không yêu cầu người làm chứng cho di chúc miệng, dẫn đến tòa án linh hoạt hơn trong việc chấp nhận lời chứng của con cái nếu có bằng chứng hỗ trợ.

    Ví dụ: Cụ T có ba người con là bà N, bà M, ông Q. Năm 1993, cụ T lập tờ di chúc để lại căn nhà cho cháu là chị H (con của bà N) có bà G làm chứng và di chúc đã được công chứng. Ngày 08/10/1994, cụ T chết. Ngày 21/10/1994, ông Q lập “tờ đồng thuận” có nội dung là trước khi chết, cụ T căn dặn để lại căn nhà cho cháu nội là anh B thờ cúng. “Tờ đồng thuận” có bà M ký tên đồng ý, còn chị H thì ký xác nhận đang giữ giấy chủ quyền căn nhà trên. Năm 1997, chị H khởi kiện yêu cầu được thừa kế theo tờ di chúc, buộc anh B giao nhà. Tại Tòa, chị H thừa nhận cụ T có căn dặn căn nhà trên để lại cho anh B quản lý thờ cúng nhưng chị cho rằng chị mới là chủ sở hữu theo tờ di chúc có công chứng, còn ông Q thì cho rằng anh Bình là chủ sở hữu theo “tờ đồng thuận”. Bản án dân sự phúc thẩm chấp nhận “tờ đồng thuận” hay di chúc miệng có hiệu lực.

    Như vậy, Trong di chúc miệng tại ví dụ trên thì người làm chứng gồm ông Q, bà M (đều là người thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất) và chị H (người thừa kế theo di chúc bằng văn bản) ký xác nhận vào di chúc. Thêm vào đó, các bên tranh chấp cũng đã thừa nhận nội dung di chúc miệng là có thật tại Tòa.

    Di chúc miệng của cụ T được xác lập khi Pháp lệnh Thừa kế 1990 còn hiệu lực. Pháp lệnh này không yêu cầu di chúc miệng phải có người làm chứng hoặc ghi chép lại. Do đó, Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận di chúc miệng là hợp pháp vì có căn cứ rõ ràng chứng minh ý chí thật sự của người lập. Chứng cứ để xác định di chúc miệng trên đúng với ý nguyện người chết là “tờ đồng thuận” và “tờ di chúc” được những người làm chứng lập lại và các bên đã thừa nhận tại phiên tòa. Về người làm chứng trong ví dụ này: Ông Q, bà M (người thừa kế theo hàng thứ nhất) và chị H (người thừa kế theo di chúc văn bản) đã ký xác nhận. Quan điểm của Tòa án trong trường hợp này chấp nhận di chúc miệng có giá trị pháp lý. Tòa án chấp nhận giá trị pháp lý của di chúc miệng là hợp lý, vì lời khai của họ khách quan, dễ dàng chứng minh sự tồn tại của di chúc miệng, và các bên đã thừa nhận thực tế tại tòa. Theo Điều 629 và khoản 5 Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015, di chúc miệng chỉ hợp pháp khi: Người lập thể hiện ý chí trước mặt ít nhất 02 người làm chứng; Người làm chứng phải ghi chép ngay và cùng ký tên/điểm chỉ; Trong 05 ngày làm việc phải được công chứng viên hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận chữ ký/điểm chỉ của người làm chứng.

    Đồng thời, Điều 632 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định rõ: người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật không được làm chứng. Vì vậy, nếu vụ việc xảy ra ngày nay, di chúc miệng của cụ T sẽ không được chấp nhận do không đủ điều kiện về số lượng, tư cách người làm chứng và thủ tục ghi chép và xác nhận. 

    Dịch vụ Luật sư thừa kế của Luật Trường Minh Ngọc

    >>> Xem thêm: Người không biết chữ có lập di chúc hợp pháp được không? Những điều cần biết để tránh tranh chấp thừa kế.

    >>> Xem thêm: Người nhận di sản thừa kế có nghĩa vụ trả nợ vay ngân hàng cho người chết không để lại di chúc hay không?

    Trên đây là những chia sẻ của Luật Trường Minh Ngọc về vấn đề Con cái có được làm chứng trong di chúc của bố mẹ không?Bài viết chỉ mang tính tham khảo, không phải là ý kiến tư vấn để giải quyết một vụ việc cụ thể. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào cần được giải đáp, vui lòng liên hệ cho chúng tôi:

    Liên hệ qua Hotline:

    - Hotline 1: 093 694 1658 (zalo)

    - Hotline 2: 083 450 9168 (zalo)

    Liên hệ qua Facebook: Luật Trường Minh Ngọc - Luật sư của bạn

    Liên hệ trực tiếp tại văn phòng: Tầng 3, 68 – 70 Hoàng Diệu, Phường Xóm Chiếu, Tp. Hồ Chí Minh

    Liên hệ qua email: infotruongminhngoc@gmail.com

    *Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: infotruongminhngoc@gmail.com

    Zalo
    Hotline