Luật sở hữu trí tuệ mới nhất là năm nào? Quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ hiện hành tại Việt Nam có gì nổi bật?

Tầng 3, 70 Hoàng Diệu, Phường Xóm Chiếu, Tp. Hồ Chí Minh

infotruongminhngoc@gmail.com

logo

Hotline 24/7 093 694 1658 0939 593 486

Luật sở hữu trí tuệ mới nhất là năm nào? Quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ hiện hành tại Việt Nam có gì nổi bật?
26/12/2025 12:36 AM 3317 Lượt xem

    Luật Sở hữu trí tuệ mới nhất của Việt Nam là Luật được sửa đổi, bổ sung năm 2025, vừa được Quốc hội khóa XV dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ với kết quả 432/438 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 91,33 %), thông qua tại Kỳ họp thứ 10 ngày 10/12/2025 và sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/4/2026. Đây là bản cập nhật toàn diện nhất trong hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ từ trước đến nay, nhằm hiện đại hoá khung pháp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh kinh tế số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế sâu rộng.

     

    Hãy cùng Luật Trường Minh Ngọc tìm hiểu về vấn đề này như sau:

    Những điểm sửa đổi, bổ sung nổi bật của Luật Sở hữu trí tuệ (Ảnh minh họa)

    Luật sở hữu trí tuệ mới nhất là năm nào?

    Luật Sở hữu trí tuệ mới nhất hiện nay là Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 cũng đã được sửa đổi, bổ sung qua các năm là 2009, 2019 và 2022.

    Cụ thể:

    - Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009

    - Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2019

    - Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 Văn bản hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ mới nhất năm 2025 là Văn bản hợp nhất 11/VBHN-VPQH, hợp nhất 04 văn bản là: Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2019 và Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022

    Lần đầu tiên luật hóa vấn đề sở hữu trí tuệ gắn với trí tuệ nhân tạo (Ảnh minh họa)

    Những điểm sửa đổi, bổ sung nổi bật của Luật Sở hữu trí tuệ

    Lần đầu tiên luật hóa vấn đề sở hữu trí tuệ gắn với trí tuệ nhân tạo

    Một trong những điểm mới có tính đột phá là bổ sung quy định về phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đối với đối tượng được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo.

    Cụ thể, tại khoản 2 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 đã bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 như sau:

    " Căn cứ vào quy định của Luật này, Chính phủ quy định việc phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này trong trường hợp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo."

    Trước thời điểm Luật sửa đổi 2025 được thông qua, Luật Sở hữu trí tuệ chỉ thừa nhận chủ thể quyền là con người hoặc tổ chức, gắn liền với hoạt động sáng tạo mang tính trí tuệ của con người. Trong khi đó, các sản phẩm do AI hỗ trợ hoặc tạo ra ngày càng phổ biến, làm phát sinh khoảng trống pháp lý trong việc xác định ai là chủ thể được hưởng quyền SHTT.

    Việc bổ sung khoản 5 Điều 6 cho thấy nhà làm luật đã tiếp cận linh hoạt, không phủ nhận vai trò của AI nhưng cũng không mặc nhiên công nhận AI là chủ thể quyền, mà lựa chọn giải pháp giao Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm tính thận trọng và khả năng điều chỉnh linh hoạt theo thực tiễn.

    Mở rộng đối tượng bảo hộ, tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ

    Luật SHTT 2025 chính thức mở rộng phạm vi bảo hộ KDCN, phù hợp với xu hướng toàn cầu. Cụ thể, căn cứ tại Điều 4 và Điều 63 Luật SHTT 2025 quy định bổ sung như sau:

    “ Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm hoặc bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp, được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này và nhìn thấy được trong quá trình khai thác công dụng của sản phẩm hoặc sản phẩm phức hợp.”

    Như vậy theo quy định mới đã tạo cơ sở pháp lý mở rộng phạm vi bảo hộ KDCN sang môi trường số, nơi sản phẩm không tồn tại dưới dạng vật lý nhưng vẫn được người dùng “khai thác công dụng” thông qua giao diện hiển thị. Trên cơ sở đó, các đối tượng như:

    - Sản phẩm phi vật lý: Bổ sung khả năng bảo hộ kiểu dáng đối với các sản phẩm phi vật lý như giao diện đồ họa (GUI), biểu tượng số, hiệu ứng chuyển động trên màn hình (ví dụ: trong ứng dụng di động, website) theo Điều 63 Luật SHTT.

    Bên cạnh đó, cho phép Nhà nước cấm, hạn chế hoặc buộc chuyển giao quyền sử dụng trong các trường hợp đặc biệt như quốc phòng, an ninh, y tế, khoa học - công nghệ. Đồng thời bổ sung cơ chế xử lý xung đột giữa nhiều quyền SHTT trên cùng một đối tượng, trong đó quyền phát sinh sau có thể bị buộc chấm dứt thực hiện theo quyết định của Tòa án;

    Và lần đầu tiên cho phép sử dụng hợp pháp văn bản, dữ liệu đã công bố để nghiên cứu, thử nghiệm, huấn luyện hệ thống AI, với điều kiện không gây ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền của chủ sở hữu (theo khoản 5 mới được bổ sung)

    " 5. Tổ chức, cá nhân được sử dụng văn bản và dữ liệu về đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được công bố hợp pháp và công chúng được phép tiếp cận để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, thử nghiệm, huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo, với điều kiện việc sử dụng này không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này."

    Đối với văn bản và dữ liệu là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan, việc sử dụng văn bản và dữ liệu theo quy định tại khoản này còn phải thực hiện theo quy định của Chính phủ.

    Bổ sung chính sách mới về quản lý, khai thác và thương mại hóa quyền SHTT (Ảnh minh họa)

    Bổ sung chính sách mới về quản lý, khai thác và thương mại hóa quyền SHTT

    Luật sửa đổi cũng đã bổ sung Điều 8a - một điều hoàn toàn mới, lần đầu tiên quy định trực tiếp về quản lý và khai thác quyền SHTT như một loại tài sản.

    " Điều 8a. Quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ

    1. Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có trách nhiệm lập danh mục riêng để quản trị nội bộ trong trường hợp quyền sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán.

    2. Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để thực hiện các hoạt động giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật liên quan theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, sở hữu trí tuệ, quản lý, sử dụng tài sản cộng và quy định khác của pháp luật có liên quan.

    3. Nhà nước khuyến khích khai thác quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn hoặc thế chấp để vay vốn theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, tín dụng và quy định khác của pháp luật có liên quan."

    Như vậy chủ trương khuyến khích của Nhà nước trong việc khai thác quyền SHTT, cho phép sử dụng quyền SHTT để góp vốn, thế chấp vay vốn, qua đó thúc đẩy huy động nguồn lực tài chính, thương mại hóa tài sản trí tuệ và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế đổi mới sáng tạo.

    Về nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí

    Chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng cng nghiệp, thiết kế bố trí có nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả theo thỏa thuận. Cụ thể, tại khoản 3 Điều 135 đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 7 Điều 71 theo Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025. Nếu không có thỏa thuận, mức thù lao sẽ được xác định như sau:

    – Trường hợp chủ sở hữu tự sử dụng đối tượng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh: 10% lợi nhuận trước thuế tính trên phần giá trị mà đối tượng sở hữu trí tuệ đóng góp vào sản phẩm/dịch vụ.

    – Trường hợp chuyển giao quyền sử dụng: 15% tổng số tiền mà chủ sở hữu nhận được từ việc chuyển giao (trước thuế).

    – Trường hợp có đồng tác giả: Các đồng tác giả tự thỏa thuận việc phân chia thù lao theo mức nêu trên.

    Thủ tục hành chính về cách thức nộp đơn yêu cầu thực hiện thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp

    Cách thức nộp đơn yêu cầu thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp tại Điều 89 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    " Điều 89. Cách thức nộp đơn yêu cầu thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp

    1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam có thể tự mình hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam để nộp đơn yêu cầu thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.

    2. Cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn yêu cầu thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.

    3. Đơn trong các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp phải được nộp dưới hình thức văn bản ở dạng giấy hoặc dạng điện tử theo hệ thống nộp đơn điện tử."

    So với quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Luật sửa đổi Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ 2019, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022. Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh từ “đăng ký xác lập quyền” sang “các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp” và thống nhất hình thức nộp đơn giấy và điện tử cho mọi thủ tục.

    Luật 2025 sửa đổi Điều 100 về yêu cầu chung đối với đơn đăng ký sở hữu công nghiệp  của Luật 2005 như sau:

    - Ở quy định cũ, Điều 100 liệt kê cụ thể và đầy đủ từng loại tài liệu phải có trong đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, bao gồm: tờ khai, tài liệu kỹ thuật thể hiện đối tượng bảo hộ, giấy ủy quyền, tài liệu chứng minh quyền đăng ký, tài liệu chứng minh quyền ưu tiên, tài liệu về nguồn gen, chứng từ nộp phí, lệ phí…

    - Ở quy định mới, không còn liệt kê chi tiết các thành phần hồ sơ mà chỉ quy định mang tính nguyên tắc: “Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp bao gồm các tài liệu về đối tượng yêu cầu bảo hộ và các tài liệu khác liên quan”. Điều 100 mới không còn liệt kê các loại tài liệu như giấy ủy quyền, tài liệu quyền ưu tiên, tài liệu về nguồn gen…, nhưng không có nghĩa các tài liệu này bị bãi bỏ.

    - Bên cạnh đó, Quy định cũ không đặt ra nguyên tắc chung về phạm vi một đơn đăng ký ngay tại Điều 100. Tuy nhiên theo quy định mới thì “Mỗi đơn đăng ký sở hữu công nghiệp chỉ được yêu cầu cấp một văn bằng bảo hộ cho một đối tượng sở hữu công nghiệp duy nhất”;

    Ngoài ra, Người nộp đơn chịu trách nhiệm đối với thông tin khai trong đơn. Nếu có căn cứ xác định thông tin không chính xác, không trung thực, văn bằng bảo hộ có thể bị thu hồi.

    Dịch vụ Luật Sư Doanh Nghiệp của Luật Trường Minh Ngọc

    >>> Xem thêm: "Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là bao nhiêu?"

    Trên đây là những chia sẻ của Luật Trường Minh Ngọc về vấn đề "Luật sở hữu trí tuệ mới nhất là năm nào? Quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ hiện hành tại Việt Nam có gì nổi bật?"Bài viết chỉ mang tính tham khảo, không phải là ý kiến tư vấn để giải quyết một vụ việc cụ thể. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào cần được giải đáp, vui lòng liên hệ cho chúng tôi:

    Liên hệ qua Hotline:

    - Hotline 1: 093 694 1658 (zalo)

    - Hotline 2: 0939 593 486 (zalo)

    Liên hệ qua Facebook: Luật sư đất đai giỏi HCM - Luật Trường Minh Ngọc

    Liên hệ trực tiếp tại văn phòng: Tầng 3, 68 – 70 Hoàng Diệu, Phường 13, Quận 4, Tp. Hồ Chí Minh

    Liên hệ qua email: infotruongminhngoc@gmail.com

    *Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: infotruongminhngoc@gmail.com

     

    Zalo
    Hotline