Hành vi trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật, nhằm mục đích tư lợi mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó. Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ khi lấy trộm tài sản trị giá từ 2 triệu đồng trở lên mới bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam, hành vi trộm cắp nhiều lần, dù mỗi lần trị giá dưới 2 triệu đồng, vẫn có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự nếu thỏa mãn các điều kiện định tội.
Hãy cùng Luật Trường Minh Ngọc tìm hiểu vấn đề này như sau:
(Ảnh minh họa)
Trộm cắp tài sản dưới 2 triệu đồng trong trường hợp nào thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về Tội trộm cắp tài sản như sau:
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên, người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản.
Cũng theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017, hành vi trộm cắp tài sản trong trường hợp này có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng - 03 năm.
Trộm cắp tài sản nhiều lần nhưng mỗi lần đều dưới 2 triệu đồng thì bị xử lý như thế nào?
Theo tinh thần hướng dẫn của Công văn 64/TANDTC-PC năm 2019 thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính do Tòa án nhân dân tối cao ban hành như sau:
3. Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu, nhưng mỗi lần trị giá tài sản bị xâm phạm dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, nếu tổng trị giá tài sản của các lần bị xâm phạm bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự thì có xử lý về hình sự hay không?
Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có nhiều quy định kế thừa quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về việc lấy trị giá tài sản bị chiếm đoạt làm căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự. Trước đây, nội dung này đã được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Hiện nay, chưa có Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn quy định này của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, vận dụng Thông tư liên tịch số 02 này thì trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu, nhưng mỗi lần trị giá tài sản bị xâm phạm dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, nếu tổng trị giá tài sản của các lần bị xâm phạm bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự, thì người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo tổng trị giá tài sản của các lần bị xâm phạm, nếu các hành vi xâm phạm sở hữu được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian.
Ví dụ: Một người đàn ông thường xuyên ghé vào một cửa hàng tạp hóa, mỗi ngày ông ta chỉ lén lấy trộm một vài món hàng nhỏ. Chủ cửa hàng kiểm tra camera và phát hiện mỗi lần ông ta trộm đồ thì giá trị tài sản đều dưới 2 triệu đồng, nhưng khi tổng hợp lại sau nhiều ngày thì tổng giá trị hàng hóa bị mất là 5 triệu đồng.
Do tổng giá trị hàng hóa 5 triệu đồng đã vượt mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự, người đàn ông này sẽ bị khởi tố về Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi năm 2017. Hoặc có thể bị xử lý với tình tiết tăng nặng: “phạm tội nhiều lần”, “có tổ chức”, “có tính chuyên nghiệp” (theo khoản 2, 3 Điều 173 BLHS).
Như vậy, nếu tổng giá trị tài sản của các lần trộm cắp cộng lại bằng hoặc trên 2 triệu đồng và các hành vi này được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian, thì người thực hiện hành vi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản theo tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt. Ngược lại, nếu các hành vi trộm cắp diễn ra không liên tục, không kế tiếp nhau về mặt thời gian và mỗi lần đều dưới mức xử lý hình sự, thì người này sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính cho từng lần vi phạm nếu còn thời hiệu.
(Ảnh minh họa)
Nếu chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi trộm cắp sẽ bị xử phạt hành chính như thế nào?
Người có hành vi trộm cắp tài sản mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự nêu trên thì bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021.
Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác 1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Trộm cắp tài sản, xâm nhập vào khu vực nhà ở, kho bãi hoặc địa điểm khác thuộc quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản;
Theo đó, phạt tiền từ 02 - 03 triệu đồng đối với người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Đồng thời, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
Dịch vụ Luật sư tư vấn, Luật sư bào chữa Hình sự của Luật Trường Minh Ngọc
>>> Xem thêm: Cướp đồ giả có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
>>> xem thêm: Chơi cá độ bóng đá có vi phạm pháp luật không? Bị xử phạt như thế nào?
Trên đây là những chia sẻ của Luật Trường Minh Ngọc về “Trộm nhiều lần dưới 2 triệu đồng thì có phải chịu trách nhiệm hình sự không?”. Bài viết chỉ mang tính tham khảo, không phải là ý kiến tư vấn để giải quyết một vụ việc cụ thể. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào cần được giải đáp, vui lòng liên hệ cho chúng tôi:
Liên hệ qua Hotline:
- Hotline 1: 093 694 1658 (zalo)
- Hotline 2: 0939 593 486 (zalo)
Liên hệ qua Facebook: Luật Trường Minh Ngọc
Liên hệ trực tiếp tại văn phòng: Tầng 3, 68 – 70 Hoàng Diệu, Phường Xóm Chiếu, Tp. Hồ Chí Minh
Liên hệ qua email: infotruongminhngoc@gmail.com
*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: infotruongminhngoc@gmail.com